Cảng Hải Phòng
Hoa Phượng

THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI HẢI PHÒNG

Chào thành phố cảng xanh

Vi En Kr Ja Cn

Thông tin kinh tế - xã hội

19/11/2014 - 4:52 PMhaiphong.gov.vn 11148 Lượt xem

Ngày nay, phát triển bền vững (sustainable development) đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Nội dung này cũng đã được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà Việt Nam phải hướng tới. Tại Hải Phòng, phát triển bền vững đã và đang được cả Trung ương và địa phương hết sức quan tâm. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 10-10-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 72-KL/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết này, trong đó xác định cho Hải Phòng một hướng đi bền vững thông qua mô hình “thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại”. Trong hướng đi mới, thành phố nói chung, công tác đối ngoại của thành phố phải đối mặt với nhiều thách thức mới; đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu và thực hiện những nhiệm vụ mới.

 

 1. Tổng quan về thành phố Hải Phòng và kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ//TW của Bộ Chính trị

Được thành lập ngày 19-7-1888, trải qua 126 năm xây dựng và phát triển, Hải Phòng hôm nay là một đô thị loại I, đô thị trung tâm cấp quốc gia với 7 quận, 8 huyện (trong đó có 2 huyện đảo), nơi sinh sống của gần 2 triệu cư dân. Nằm ở trung tâm vùng Duyên hải Bắc bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông; diện tích tự nhiên rộng 1.512,4 km2, đường bờ biển dài 125 km, Hải Phòng có vị thế chiến lược về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh đối với toàn vùng Bắc bộ cũng như cả nước; là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; là cửa chính ra biển của các tỉnh Bắc bộ và hai hành lang, một vành đai kinh tế trong hợp tác Việt Nam - Trung Quốc; là trọng điểm kinh tế biển của cả nước, một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng – an ninh, lá chắn cho thủ đô Hà Nội.

Với vị trí chiến lược của mình, đặc biệt là sự hội tụ đủ 5 loại giao thông, Hải Phòng đã trở thành một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, một đầu mối giao thông quan trọng trong nước và quốc tế. Trong thời kỳ đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế, vị thế Hải Phòng là cửa chính ra biển của các tỉnh, thành phố phía Bắc, của một vành đai, hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc và hành lang kinh tế Đông – Tây ngày càng được khẳng định.

Ngày 05-8-2003, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 32-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với nỗ lực, quyết tâm cao, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã vượt qua khó khăn, tích cực thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, phát triển thành phố theo đúng phương hướng, mục tiêu Nghị quyết đề ra và đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực:

Kinh tế thành phố tăng trưởng tương đối nhanh, GDP tăng bình quân 11%/năm, gấp 1,57 lần mức tăng chung cả nước. Năm 2012, quy mô kinh tế tăng gấp 2,8 lần năm 2002, đứng thứ hai trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và chiếm 4,7% tổng GDP cả nước.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó tỷ trọng dịch vụ - công nghiệp chiếm gần 90%. Nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 11,09%/năm, với một số ngành công nghiệp chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong công nghiệp cả nước, như đóng tầu, sản xuất thép, xi măng, hóa chất. Nhóm ngành dịch vụ tăng trưởng bình quân 12,4%/năm, đứng thứ hai trong vùng đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt, dịch vụ cảng biển phát triển nhanh, sản lượng hàng hóa qua cảng có sự tăng trưởng vượt bậc, từ 13,02 triệu tấn năm 2003 lên 55,5 triệu tấn năm 2013. Thành phố đã và đang phát huy tốt vai trò là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc.

Công tác huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có bước tiến bộ quan trọng cả về lượng và chất. Đặc biệt, từ năm 2010 trở lại đây, thành phố đã thu hút được nhiều dự án lớn của các tập đoàn nổi tiếng từ Nhật Bản, Hàn Quốc, như LG, Bridgestone, Nipro Pharma, Fuji Xerox… Các dự án đầu tư này đều có công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, tác động lan tỏa lớn và khả năng thu hút các dự án vệ tinh khác. Ngoài ra, thành phố đã có 9 dự án đầu tư ra nước ngoài (Thuỵ Điển, Lào, Hoa Kỳ, Đài Loan, Úc, Belaurus…) với tổng mức vốn đầu tư gần 20 triệu USD.

Các dự án hạ tầng chiến lược như: Cảng cửa ngõ Quốc tế Hải Phòng Lạch Huyện; đường cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (dài 16 km - dài nhất Đông Nam Á); nâng cấp Cảng hàng không Quốc tế Cát Bi; đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng... được khởi công xây dựng, tạo động lực mới cho sự phát triển của thành phố trong thời gian tới. Hình ảnh và vị thế của thành phố trong và ngoài nước đã được thay đổi theo hướng tích cực. Năm 2013, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của thành phố đứng thứ 15 cả nước, tăng 35 bậc so với năm 2012 và đứng thứ 3 vùng đồng bằng sông Hồng; thành phố đã được hãng truyền hình CNA xếp hạng là một trong 6 thành phố đang nổi của châu Á về sự phát triển bền vững.

Như vậy, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, con đường phát triển của Hải Phòng đã được hình thành ngày càng rõ nét. Thành phố đã và đang tạo cho mình một thế đứng mới, một đà phát triển mới cho giai đoạn tiếp theo. Hải Phòng đã từng bước phát huy tốt hơn vai trò đầu mối giao thông quan trọng, cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc, trung tâm phát triển về nhiều lĩnh vực của vùng và cả nước, nhất là về kinh tế biển.

 

2. Mô hình tăng trưởng thành phố và những yêu cầu đặt ra

Trên nền tảng những thành tựu Hải Phòng đã đạt được sau 10 năm triển khai Nghị quyết số 32-NQ/TW, Bộ Chính trị đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết và ban hành Kết luận số 72-KL/TW ngày 10-10-2013, xác định rõ hơn mô hình phát triển cho Hải Phòng trong giai đoạn tiếp theo. Cụ thể, từ nay đến năm 2020, Hải Phòng cần phát triển theo hướng “phát huy tối đa các nguồn lực, lợi thế để xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại, trung tâm dịch vụ, công nghiệp lớn có sức cạnh tranh cao; là trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả nước; trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế và khoa học - công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ; là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc và hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng nâng cao; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng - an ninh; có tổ chức đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước năm 2020”.

Để triển khai thực hiện mô hình phát triển trên, từ nay đến năm 2020, thành phố Hải Phòng phải thực hiện được những mục tiêu và nhiệm vụ sau:

 Thứ nhất, phải đẩy mạnh việc thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh, bền vững; chuyển từ phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang theo chiều sâu; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là sự đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP của thành phố. Tập trung phát triển những lĩnh vực mang tính đột phá thuộc thế mạnh của thành phố, như các ngành dịch vụ cảng biển, sân bay, du lịch, kinh tế biển và vận tải biển, Logistics, tài chính, xuất nhập khẩu... Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn, có năng suất, giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao, sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Nâng cao tỉ lệ nội địa trong sản phẩm, chuyển dần từ gia công, lắp ráp sang chế tạo và chế tác. Ưu tiên phát triển những sản phẩm có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, giảm dần những sản phẩm sơ chế, tiêu tốn tài nguyên. Phát triển nông nghiệp sinh thái với các sản phẩm sạch, giá trị thu nhập cao; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Thứ hai, xây dựng và phát triển đô thị Hải Phòng theo hướng đô thị cảng biển xanh, văn minh, hiện đại. Thực hiện tốt ba khâu đột phá chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra (hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng). Trong phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải bảo đảm đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố và vùng. Cần huy động mọi nguồn lực để đầu tư, kể cả vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức (BOT, BTO, BT, PPP...). Đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố.

Thứ ba, phải tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển xanh của thành phố. Tạo chuyển biến toàn diện, sâu sắc về cải cách hành chính, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường kỷ cương, hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành của các cấp chính quyền; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ tư, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ gìn ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền và vận động quần chúng. Bảo đảm các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, nội bộ đoàn kết thống nhất và nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, phục vụ tốt nhân dân.

 

3. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong tình hình mới

Sự lớn mạnh của thành phố sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị có phần đóng góp của công tác đối ngoại của thành phố. Hoạt động đối ngoại trên cả ba lĩnh vực (đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân) đã góp phần tích cực vào xây dựng và nâng cao vị thế của Hải Phòng. Bên cạnh tổ chức thành công các sự kiện lớn mang tầm quốc tế, thành phố đã trở thành một điểm sáng trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Công tác đối ngoại đã giúp tạo nên hình ảnh đẹp về một thành phố Cảng thân thiện, năng động, là điểm đến tin cậy của nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, trước yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển bền vững thành phố theo mô hình đã được xác định trong Kết luận số 72-KL/TW của Bộ Chính, đặc biệt là trước 4 nhóm mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể đã đặt ra để triển khai mô hình phát triển này, công tác đối ngoại của thành phố đang đối mặt với nhiều thách thức. Đó là yêu cầu gắn kết, bổ trợ chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân để phục vụ tốt nhất mục tiêu phát triển chung của thành phố. Là đòi hỏi cao hơn về tính chủ động, chuyên nghiệp trong các hoạt động đối ngoại, nhất là việc xây dựng hệ thống thông tin và phương thức cung cấp thông tin đối ngoại, bảo đảm công tác đối ngoại phải luôn là cầu nối tốt nhất giữa “bên trong” và “bên ngoài” của thành phố. Là nhiệm vụ xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác đối ngoại nói chung, đội ngũ cán bộ nòng cốt làm công tác đối ngoại của thành phố nói riêng…

Từ những yêu cầu, nhiệm vụ chung của sự nghiệp phát triển thành phố trong giai đoạn tiếp theo như Kết luận số 72-KL/TW đã chỉ ra, ngành ngoại giao Hải Phòng cần nắm vững bối cảnh và thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Trước hết, cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ và thống nhất về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong tình hình mới. Cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao vào thực tiễn thành phố hiện nay. Phía trong nước, ngoại giao phối hợp chặt chẽ với chính trị, kinh tế, quân sự để củng cố và xây dựng nội lực, đồng thời làm cầu nối thúc đẩy thu hút các dự án công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hình ảnh thành phố qua thương hiệu hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ và tăng cường gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam… Bên ngoài, ngoại giao tạo điều kiện để gắn dân tộc với thời đại, tạo ra thế và lực mới. Đặc biệt, trong công tác đối ngoại cần phải luôn “làm đúng đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ... vì lợi ích của hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội”.

Thứ hai, phải nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đồng thời gắn kết chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng ba trụ cột đối ngoại để tạo thành “thế chân kiềng vững chãi, toàn diện của nền ngoại giao”, thực hiện thắng lợi chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa và chủ động hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước nói chung, của Hải Phòng nói riêng. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay công tác đối ngoại phải hướng chính vào mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, giữ vững an ninh, quốc phòng của thành phố.

Thứ ba, phải kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác đối ngoại. Đối với ngành ngoại giao của thành phố, cần sớm ổn định bộ máy, xây dựng chương trình chuẩn hóa và nâng cao nghiệp vụ về công tác đối ngoại cho đội ngũ cán bộ của ngành. Đối với mỗi cán bộ trong ngành, muốn làm tốt công tác đối ngoại, cần luôn ghi nhớ và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thường xuyên học tập để hiểu rõ tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của địa phương mình và địa phương bạn. Người làm công tác đối ngoại ngoài giỏi ngoại ngữ -“một vũ khí không thể thiếu” - còn phải rất khéo léo trong hành xử, bảo đảm vừa nhanh nhạy lại vừa cẩn thận và chắc chắn.

Thứ tư, cần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong hoạt động đối ngoại. Tăng cường nghiên cứu, dự báo, nắm bắt thông tin phục vụ hoạt động đối ngoại. Nghiên cứu, nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hóa, luật pháp và thông lệ quốc tế, bảo đảm các hoạt động đối ngoại được thực hiện một cách phù hợp và hiệu quả. Đặc biệt, cần luôn chủ động trong công tác đối ngoại, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, làm ngoại giao “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, đồng thời, phải “kiên quyết không ngừng thế tiến công”. Ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong chủ động đề xuất phương hướng, chiến lược và vận dụng sách lược phù hợp để đạt được mục tiêu đối ngoại.

Thứ năm, phải đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại. Một mặt, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại; lập đầu mối thống nhất cung cấp thông tin, bảo đảm tính minh bạch, đầy đủ và thuận tiện cho các đối tác nước ngoài muốn tìm hiểu về thành phố. Mặt khác, người lãnh đạo, người cán bộ làm công tác đối ngoại cần xây dựng, duy trì và nuôi dưỡng tốt các mối quan hệ với những đối tác quan trọng ngoài nước, tạo sự gần gũi, thân thiện và hòa đồng giữa hai bên.

Cuối cùng, trước yêu cầu tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, ngoài đáp ứng những yêu cầu chung của công tác ngoại giao, mọi hoạt động đối ngoại của thành phố đều phải ưu tiên hướng vào mục tiêu quan trọng này. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, đòi hỏi phải tăng tỷ trọng đóng góp của “Năng suất các nhân tố tổng hợp” (Total Factor Productivity – TFP) trong tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố. Tức là, phải chú trọng nâng cao chất lượng của lao động và vốn thông qua các biện pháp như áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý, nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động…

Kết lại: Trước yêu cầu phát triển bền vững của thành phố mà cụ thể là “xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại”, ngành ngoại giao Hải Phòng cần hoàn thiện chính mình, đối chiếu với nhiệm vụ chung của thành phố để ưu tiên nguồn lực, chủ động nghiên cứu sâu các đối tác, đề xuất phương hướng phù hợp, hoạch định những bước đi hợp lý nhằm giúp thành phố kết giao với các đối tác tiềm năng, đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển lâu dài, bền vững. Ngành ngoại giao luôn phải cố gắng để làm thật tốt vai trò của “nhịp cầu chủ động”, gắn kết, nối liền thành phố với thế giới bên ngoài. Một mặt chủ động khai thác, tìm kiếm, thu hút những đối tác tốt nhất, phù hợp nhất cho thành phố. Mặt khác, luôn sẵn sàng và đi tiên phong trong việc tìm hiểu, giới thiệu, giúp đỡ các doanh nghiệp của thành phố kết nối, hợp tác với các đối tác tiềm năng ở nước ngoài, giúp từng bước nâng cao nội lực của đội ngũ doanh nhân địa phương. Trong việc thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại này, cần tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của các cơ quan ngoại giao Trung ương, các đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong cả nước./

 

 Tiến sỹ Nguyễn Văn Thành,

UVTW Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố

 

Chia sẻ bài viết: